ĐĂNG KÝ

Cập nhật sẽ được gửi tới email bạn

Translate

Vận động giúp phát triển chiều cao của trẻ

Ngoài việc ăn uống đầy đủ dưỡng chất để giúp cho con phát triển chiều cao của mình thì bên cạnh đó việc vận động cũng rất quan trọng...

Thực phẩm tốt cho hệ tiêu hóa của trẻ

Với những trẻ bại não vấn đề tiêu hóa là một bệnh hay gặp ở trẻ. Vì vậy bố mẹ nên để ý đến chế độ ăn uống của con.

Thực phẩm kích thích chiều cao cho trẻ

Chiều cao của trẻ cũng là nỗi quan tâm rất lớn của các bậc làm cha làm mẹ. Làm thế nào để giúp trẻ tăng chiều cao và có một sức khỏe tốt cho trẻ?

Nguyên nhân và cách khắc phục biếng ăn ở trẻ

Từ trước đến nay việc biếng ăn ở trẻ luôn là nỗi quan tâm hàng đầu của các ông bố bà mẹ. Làm sao cho để trẻ không biếng ăn nữa và nguyên nhân do đâu khiến trẻ như vậy ?

Thực phẩm tốt và không tốt cho trẻ

Có một số loại thực phẩm không tốt cho trẻ nhỏ. Và các mẹ nên hạn chế cho bé sử dụng. Chúng ta cùng điểm lại những thực phẩm không tốt cho bé nhé!

Hiển thị các bài đăng có nhãn trẻ bại não. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn trẻ bại não. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 2 tháng 8, 2016

Châm cứu một phương pháp chữa bệnh tử kỷ ở trẻ

       Tự kỷ là căn bệnh khá phổ biến và đang trở thành nỗi lo lắng của toàn xã hội hiện nay. Với những mong muốn đưa trẻ mắc bệnh tự kỷ hòa nhập với cộng đồng, các chuyên gia về y tế đã luôn cố gắng trong việc kết hợp nhiều biện pháp y học và bước đầu đã có những tín hiệu khả quan, trong đó Châm cứu chữa bệnh tự kỷ đang là phương pháp được khoa học ghi nhận.

Châm cứu một phương pháp chữa bệnh tử kỷ ở trẻ

Những biểu hiện của bệnh tự kỷ:
Hội chứng tự kỷ ở trẻ em được biểu hiện qua 3 loại hành vi:
- Biểu hiện suy giảm khả năng hòa nhập xã hội:
 Không cười với người khác, ít khi nhìn thẳng vào mắt người khác, thích chơi một mình, không thích chơi với trẻ khác, sống rất độc lập…
- Biểu hiện của sự suy giảm khả năng giao tiếp:
Trẻ thường chậm, thậm chí rất chậm nói hoặc là nói xì xồ không rõ là tiếng gì. Có trẻ biết nói nhưng chỉ được vài câu như "bà", "mẹ"...còn lại là im lặng.
- Biểu hiện của sự chơi tưởng tượng: 
Trẻ tự kỷ thường không thích chơi với bạn bè mà chỉ thích chơi một mình. Không đa dạng trong cách chọn trò chơi, chỉ theo một mô típ. Kỹ năng chơi hạn chế, lặp đi lặp lại một động tác.
Ngoài các triệu chứng chính nêu trên còn có thể có những triệu chứng khác của trẻ tự kỷ như khó ngủ, thường thức dậy vào ban đêm và dậy sớm; những hành vi ăn uống khác thường cũng thấy ở 3/4 số trẻ bị tự kỷ...
Những nguyên nhân gây nên căn bệnh tự kỷ: 
Có 3 nguyên nhân cơ bản gây nên bệnh tự kỷ, đó là: 
Do tổn thương não thực thể (xảy ra trước khi sinh: Mẹ bị nhiễm siêu vi trùng...trẻ đẻ non...), do di truyền (gen), và do môi trường (hóa chất, bụi khói, sóng điện từ...).
Châm cứu chữa bệnh tự kỷ:
Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu cho rối loạn tự kỷ. Bên cạnh yếu tố tiên quyết là phát hiện và can thiệp sớm.
Các y bác sỹ hiện nay đang chữa bệnh kết hợp các phương pháp y học cổ truyền (châm cứu, xoa bóp bấm huyệt) và y học hiện đại. Các phương pháp theo y học cổ truyền gồm: Đại trường châm, thủy châm, cấy chỉ, xoa bóp bấm huyệt, tắm dược thảo... Phương pháp điều trị theo y học hiện đại như chiếu đèn hồng ngoại, chiếu đèn tử ngoại, giáo dục kỹ năng sống.
Đông y cho rằng cơ chế phát sinh hội chứng tự kỷ là do nguyên dương không khoẻ, khí huyết đều suy làm cho sự sinh trưởng và phát dục bị trở ngại. Do vậy mà phải bổ ích ngũ tạng, bổ dưỡng khí huyết, khai khiếu tỉnh thần, thông kinh hoạt lạc. Dùng phương pháp châm cứu - thuỷ châm kết hợp với các vitamin B1, vitamin B12, novocain các thuốc dinh dưỡng thần kinh: cerberolysin, Ginkgo biloba, piracetam… các thuốc tăng dẫn truyền phản xạ thần kinh: citicholine, choline Alforcerate, Magne B6…sẽ cho kết quả tốt hơn.
Bệnh tự kỷ ở trẻ em nếu không được chữa trị kịp thời sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như: rối loạn tâm thần, thậm chí là trở thành bệnh nhân tâm thần. Nếu trẻ được phát hiện sớm kết hợp với phương pháp chữa bệnh tự kỷ bằng châm cứu, trẻ sẽ sớm có cơ hội được trở lại hòa nhập với cộng đồng.


Thứ Hai, 30 tháng 5, 2016

Nguy cơ bại não ở trẻ và cách phòng

Nguy cơ bại não ở trẻ và cách phòng

       Bại não tình trạng bệnh lý mạn tính ảnh hưởng đến sự kiểm soát các vận động cũng như tư thế. Do một phần nào đó của bộ não bị tổn thương nên trẻ bệnh không thể cử động các cơ được vùng não đó điều khiển một cách bình thường được.
Nguy cơ bại não ở trẻ và cách phòng

        Bại não do bất kỳ nguyên nhân nào cũng để lại những hậu quả đa dạng bao gồm những bất thường về vận động, giác quan, tâm thần và hành vi, trong đó rối loạn về vận động là chủ yếu. Một khi não của trẻ bị tổn thương nó sẽ khó có khả năng phục hồi lại. Tuy nhiên, nếu phát hiện sớm và dùng các kỹ thuật phục hồi, điều chỉnh tư thế và các rối loạn khác sẽ giúp cho trẻ phát triển tốt hơn.
Tỷ lệ trẻ mắc bệnh bại não trên thế giới khoảng 2 – 2,5/1.000 trẻ, đây là một trong những tàn tật có tỷ lệ cao nhất, chiếm tới khoảng 1/3 tổng số tàn tật ở trẻ em. Tỷ lệ trẻ mắc bại não ở các nước đang phát triển chiếm đa số và trẻ trai mắc nhiều hơn gái. 
Trẻ sinh non nhẹ cân có nguy cơ mắc bệnh bại não nhiều hơn những trẻ sinh đủ tháng gấp 30 lần. Ngoài ra, khi thai phụ đẻ khó, phải can thiệp bằng phẫu thuật sản khoa hoặc thủ thuật (giác hút) rất dễ gây chứng bại não cho trẻ. Có một số trẻ mắc phải bệnh bại não sau khi sinh, do tổn thương não bộ xảy ra trong hai năm đầu. Nguyên nhân phổ biến nhất của các tổn thương này là: nhiễm khuẩn não và chấn thương vùng đầu.
     Mỗi trẻ có những biểu hiện bệnh lý khác nhau tùy theo tình trạng, thời gian và nguyên nhân mắc bệnh. Đa phần khi trẻ bị bại não, chúng bắt đầu xuất hiện các triệu chứng như chậm phát triển, đi đứng không được ngay ngắn, các động tác co gập, duỗi cứng các cơ một cách bất thường. Có trẻ thì bị liệt hoặc chậm nói.
Tùy theo tuổi, thể trạng, tình trạng bệnh bại não của từng bé mà có phương pháp điều trị thích hợp. Ngoài phương pháp dùng điện từ trường, điện xung, oxy cao áp thì tập vận động như làm giảm bớt co cứng các chi, tập luyện khả năng điều khiển tự chủ,… là chủ yếu. Tình trạng sức khỏe của trẻ bại não là yếu tố rất quan trọng, bởi nếu trẻ khỏe thì việc điều trị sẽ được liên tục đem hiệu quả cao. Còn nếu trẻ bệnh thì phải ngưng điều trị. Làm cho thời gian điều trị dài hơn. Tập luyện chức năng cho trẻ bại não có đặc điểm là đứa trẻ chưa hề biết những động tác mà kỹ thuật viên hay bố mẹ tập cho trẻ, nên cần tiến hành cần tiến hành theo trình tự phát triển vận động của trẻ bình thường. Phải toàn diện bao gồm các mặt thể chất tâm lý và giáo dục. Bác sĩ và gia đình phải kiên trì dùng các kỹ thuật phục hồi chức năng mới thành công được, nhằm làm cho trẻ hội nhập vào xã hội như học hành và các sinh hoạt vui chơi giải trí khác. 
      Vai trò của cha mẹ luôn đặt lên hàng đầu trong việc chữa trị bệnh bại não cho trẻ. Các bậc cha mẹ cùng đồng hành cùng con trong mọi hoạt động hàng ngày, hướng dẫn cho con từ những hoạt động đơn giản đến phức tạp. Luôn gần gũi nói chuyện và chơi cùng trẻ dù trẻ không hiểu nhưng sẽ cảm nhận được tình thương của cha mẹ.
     Bại não thường để lại những khiếm khuyết nặng nề, ảnh hưởng đến cuộc sống cũng như sinh hoạt hàng ngày của trẻ và gia đình. Bệnh bại não ở trẻ không thể điều trị khỏi hoàn toàn mà sẽ để lại một số di chứng. Các trẻ không thể tự chăm sóc cho mình phải phụ thuộc vào người thân. Khi trong gia đình có trẻ mắc bệnh, không những bị suy sụp về tinh thần mà kinh tế cũng sẽ khó khăn. Để điều trị  cho một trẻ bị bại não nếu không được thanh toán bảo hiểm thì chi phí từ 150.000 – 200.000 đồng/ ngày (chưa tính tiền ăn cho người chăm và cho trẻ). Nhưng chỉ cần 1 mũi duy nhất tiêm phòng ngừa rubella cho thai phụ, chúng ta có thể phòng ngừa được được bại não cho trẻ. Hoặc khi tiêm phòng viêm não Nhật Bản cho trẻ.
Bệnh bại não có thể phòng tránh được. Phụ nữ khi mang thai cần phòng tránh các bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm virut; ăn uống đầy đủ dinh dưỡng, không thức khuya, không làm việc quá sức vì dễ bị cảm cúm. Sản phụ nên thực hiện sàng lọc trước và sau khi sinh, khám thai định kỳ theo chỉ dẫn của bác sĩ chuyên khoa sản để chuẩn bị tốt cho cuộc đẻ, tránh các tai biến sản khoa như sinh non, trẻ sơ sinh bị ngạt.... Bổ sung dinh dưỡng đầy đủ cho trẻ. Khi trẻ mắc các bệnh tiêu chảy, sốt,… cần điều trị kịp thời tránh xảy ra biến chứng nguy hiểm. Chăm sóc cẩn thận, tránh các chấn thương cho trẻ nhỏ.


Thứ Bảy, 28 tháng 5, 2016

CHĂM SÓC DINH DƯỠNG CHO TRẺ BẠI NÃO

Các nguyên nhân gây khó khăn trong ăn uống của trẻ bại não

Do cử động môi của trẻ khó khăn, khả năng mím, mút, mở rộng bị hạn chế
Do các cơ mặt của trẻ bị liệt, thường gây cứng hàm nên khó nhai, khó há miệng, khó giữ được thức ăn ở trong khoang miệng để nhai mà dễ rơi ra ngoài hoặc sâu vào trong họng.
Do lưỡi của trẻ bị liệt, thường bị co rút ngắn hoặc bị đẩy dài ra ngoài nên khó nuốt, khó trộn thức ăn khi nhai
Do vòm hầu của trẻ bị tổn thương, khả năng kết hợp nhịp nhàng giữa nuốt và thở kém nên dễ sặc dễ nôn
Dinh dưỡng cho trẻ bại não
        Các thức ăn vẫn cần đầy đủ như với trẻ khỏe mạnh cùng lứa tuổi. Trẻ dưới 6 tháng tuổi thì sữa mẹ vẫn là thức ăn tốt nhất. Người mẹ có con bị bại não dễ bị mất sữa do trẻ bú kém hoặc không bú. Nên cần tăng cường cho con bú khi có thể, cần ăn đủ chất, uống đủ nước, ngủ đủ giấc thì mới duy trì được lượng sữa cho con. Trẻ lớn hơn cần ăn đủ 4 nhóm dưỡng chất: bột đường, đạm, chất béo, rau và trái cây.
       Tránh một số sai lầm khi chọn dinh dưỡng cho trẻ bại não là kiêng ăn thịt bò, kiêng ăn tôm, kiêng ăn chuối …vì sợ trẻ bị co gân.
Nên lựa chọn loại thức ăn và các hình thức chế biến phù hợp với khả năng ăn uống của trẻ. Trẻ có khả năng ăn được các thức ăn đặc thì nên cho trẻ ăn cùng thức ăn của gia đình. Cho trẻ cầm miếng thức ăn cứng để tập cắn, gặm, khuyến khích động tác nhai nuốt để trẻ tập vận động môi, lưỡi tốt hơn, cũng góp phần phát triển ngôn ngữ sau này của trẻ
Trẻ không ăn được các thức ăn đặc thì nên xay các thức ăn thành bột lỏng để trẻ ăn dễ dàng. Theo năm tháng và khả năng của trẻ sẽ tăng dần độ đặc của thức ăn lên.
Số lượng bữa ăn của trẻ bại não cần chia nhỏ thành nhiều bữa hơn so với trẻ bình thường. Giữa các bữa ăn chính cần cho trẻ ăn thêm các bữa phụ. Có một số trẻ bị mập lên thì không nên cho trẻ ăn quá nhiều, hãy giảm thức ăn béo và ngọt lại .
Kỹ thuật chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ bại não
       Chính vì trẻ bại não kém kiểm soát được môi, lưỡi, đầu và cơ thể, phối hợp chân tay và mắt kém, không cầm nắm được thức ăn đưa vào miệng, ngay cả việc bú và uống cũng khó khăn, nên các bà mẹ cần giúp trẻ tập bú, ăn, uống sao cho có hiệu quả hơn.
Tư thế cho trẻ ăn, uống, bú đúng cách như sau:
Với trẻ còn bú thì người mẹ ngồi ôm con sao cho có một tư thế thoải mái để trẻ ngậm đúng đầu vú mẹ một cách dễ dàng.
Với trẻ ăn thức ăn từ thìa thì trẻ cần được ở tư thế nửa ngồi, nửa nằm.
Trẻ ngồi được có thể sử dụng xe lăn có dây buộc, có mặt bàn để giữ trẻ
Không nên cho trẻ ăn, uống, bú ở tư thế nằm ngửa hoặc ngồi mà đầu ngửa ra sau vì khó nuốt và rất dễ bị sặc. Không nên đổ thức ăn vào sâu trong họng trẻ mà nên dùng thìa đổ từng ít thức ăn một vào đầu lưỡi trẻ, khi trẻ nuốt hết mới được đổ thìa tiếp theo.
Khi trẻ ăn, uống, bú xong không nên đặt trẻ nằm ngay xuống giường để phòng nôn và sặc
    Có thể sử dụng một số dụng cụ trợ giúp để giúp trẻ ăn, uống, bú dễ dàng hơn như bình sữa có núm vú rộng miệng hơn, thìa có tay cầm bằng cao su để trẻ dễ cầm xúc hơn. Trẻ không uống được bằng cốc có thể đổ bằng từng thìa. Với trẻ bú còn khó khăn, người mẹ cần dùng tay nâng bầu vú đồng thời dùng ngón tay điều chỉnh lượng sữa vào miệng trẻ một cách thích hợp. Trẻ không bú được thì vắt sữa mẹ cho uống bằng thìa hoặc bú bình.
CHĂM SÓC DINH DƯỠNG CHO TRẺ BẠI NÃO

      Với trẻ gặp khó khăn về nuốt, hay ngậm thức ăn hoặc đùn thức ăn, người mẹ cần biết giúp cho trẻ nuốt thức ăn bằng cách lấy tay giữ lấy xương hàm dưới và cằm của trẻ, nhẹ nhàng đẩy cằm lên cao cho trẻ khép miệng lại, đồng thời một ngón tay vuốt nhẹ từ cằm xuống cổ để kích thích phản xạ nhai nuốt của trẻ. Tuyệt đối không được bịt mũi trẻ hoặc đưa sâu thìa thức ăn vào trong họng của trẻ để kích thích trẻ nuốt vì dễ gây sặc rất nguy hiểm.
Chúc các bạn làm tốt để đem lại sức khỏe tốt cho con!


Thứ Ba, 24 tháng 5, 2016

Tư thế cho trẻ ăn, uống đúng cách

        Chăm sóc trẻ bại não là một việc rất quan trọng cần đến sự kiên trì của bố mẹ và tất cả người thân trong gia đình. Cách sinh hoạt và ăn uống đúng cách đóng một vai trò rất quan trọng cho sự phát triển của trẻ bại não. Do vậy sau đây mình sẽ đưa ra một vài tư thế cho trẻ ăn uống đúng cách để giúp bố mẹ trong việc chăm sóc con nhé.
     Đối với trẻ bại não, việc cầm nắm thức ăn hay bú đều rất khó khăn, vì vậy mẹ phải lựa chọn tư thế thích hợp để cho trẻ ăn hiệu quả. Cơ lưỡi của các em bị liệt nên việc nuốt thức ăn khó khăn, các mẹ cần cho trẻ ăn một lần một ít và thức ăn không nên đặc quá.
Tư thế cho trẻ ăn, uống, bú đúng cách như sau:
 Khi cho trẻ bại não bú, mẹ ngồi ôm con thế nào cho trẻ dễ ngậm ti mẹ nhất, không ngửa quá cũng không ngồi thẳng quá. 
 Khi cho trẻ ăn bằng việc bón cho trẻ thức ăn từ thìa nên đặt cho trẻ nằm gối cao đầu, gần như tư thế ngồi và bón (đút) từng thìa nhỏ.
Tránh tư thế cho trẻ nằm ngửa đầu ra sau khi ăn, sẽ khiến trẻ rất dễ bị sặc. 
Khi trẻ ăn xong cần làm các động tác nằm ngồi nhẹ nhàng và chậm để trẻ không bị nôn , sặc.
 Một số công cụ có thể hỗ tợ trẻ bại não khi ăn như bình bú có núm to hơn để trẻ dễ ngậm và tăng độ ma sát, hoặc thìa cán cao su dễ bám vào tay trẻ hơn. Bên cạnh đó mẹ có thể điều chỉnh lượng sữa vào miệng bé như dùng tay vắt sữa cho trẻ bú bình hoặc bón từng thìa,...
 Với trẻ gặp khó khăn khi nuốt, hoặc ngậm, đùn thức ăn mẹ có thể nâng cằm trẻ lên để thức ăn không bị đẩy ra ngoài. Tránh trường hợp đẩy thìa vào sâu sẽ rất nguy hiểm cho trẻ.
Tư thế cho trẻ ăn, uống đúng cách

 Lưu ý:
  Đối với trẻ bại não cần cho ăn đầy đủ dưỡng chất như trẻ bình thường, tránh trường hợp kiêng thịt bò, tôm , chuối vì sợ trẻ co giật . Điều này sẽ gây tình trạng thiếu chất ở trẻ.
  Trẻ bại não do cơ lưỡi không hoạt động gây khó nuốt nên thức ăn cần được xay nhuyễn ở dạng lỏng. Khi trẻ có thể ăn được tốt hơn chúng ta tăng dần độ đặc của thức ăn lên.
 Không cho trẻ ăn một lần nhiều mà nên chia thành nhiều bữa nhỏ. Ngoài những bữa ăn chính nên cho trẻ ăn thêm sữa chua hoặc nước ép trái cây. Nếu trẻ đã mập thì nên giảm lượng ăn và đồ ngọt.
  Cho trẻ cầm miếng thức ăn cứng để tập cắn, gặm, khuyến khích động tác nhai nuốt để trẻ tập vận động môi, lưỡi tốt hơn, cũng góp phần phát triển ngôn ngữ sau này của trẻ.
Đối với trẻ em dưới 6 tháng tuổi, sữa mẹ được coi là thức ăn tốt nhất. Trẻ bại não thường khó khăn trong việc ti mẹ, vì thế mẹ phải tăng cường cho trẻ bú để sữa tiết ra nhiều hơn. Ngoài ra mẹ có thể vắt sữa rồi đút cho trẻ để trẻ không bị đói , thiếu chất.Trường hợp trẻ lớn hơn cần cho trẻ ăn thêm, ăn dặm đủ chất bột, đường, đạm, rau củ và trái cây.
    Việc chăm sóc trẻ bại não có sự khó khăn vất vả của nó. Điều này đòi hỏi người thân phải kiên trì và thực hiện có khoa học, để làm giảm bớt áp lực trong sinh hoạt hàng ngày cho trẻ.
Chúc mọi người thành công.


Thứ Hai, 23 tháng 5, 2016

Các biện pháp điều trị và phục hồi chức năng

       Hôm nay mình sẽ đưa ra một số các biện pháp điều trị và phục hồi chức năng cho các bố mẹ có con không may bị bại não nha.
      Điều trị bại não cần có sự phối hợp của nhiều chuyên ngành khác nhau, cùng phối hợp với trẻ và gia đình nhằm vạch ra được một kế hoạch cụ thể thích hợp cho từng cá nhân. Điều trị bại não nhằm giúp trẻ đạt được khả năng trí tuệ cũng như vận động tối đa có thể có chứ không thể lấy lại được những khả năng đã mất để thành một đứa trẻ hoàn toàn bình thường. Nếu điều trị được thực hiện sớm và có sự phối hợp chặt chẽ của các chuyên ngành, đặc biệt là sự tham gia của gia đình thì kết quả rất khả quan. Các biện pháp cần được áp dụng:
1. Vật lí‎ trị liệu
Các biện pháp điều trị và phục hồi chức năng

Trẻ thường được bắt đầu bằng vật lý trị liệu ngay sau khi được chẩn đoán. Điều trị này làm tăng kỹ năng vận động của trẻ như ngồi, đi, cải thiện cơ lực và phòng ngừa sự co kéo biến dạng cơ (cơ bị co rút có thể giới hạn vận động của các khớp).
Đôi khi trẻ cần được sử dụng các dụng cụ như nẹp, máng hoặc bó bột để ngừa co rút cơ và cải thiện chức năng của chân và tay. Nếu tình trạng co rút cơ quá nặng, trẻ cần được phẫu thuật chỉnh hình để làm dài cơ bị bệnh.
Oxy cao áp là biện pháp được khuyến cáo áp dụng cho trẻ bại não. Oxy cao áp giúp cải thiện triệu chứng vận động, ý thức trong nhiều trường hợp.
2. Sử dụng thuốc
Đôi khi cần dùng một số thuốc nhằm làm giảm bớt mức độ co cứng của cơ và làm giảm các cử động bất thường. Tuy nhiên các thuốc đường uống hiện nay không có tác dụng đáng kể.
Có thể tiêm trực tiếp Botox (botulinum toxin) vào các cơ co rút có thể giúp cải thiện triệu chứng, tác dụng có thể kéo dài vài tháng (trong thời gian này việc phục hồi chức năng thực hiện dễ dàng hơn).
Một loại thuốc khác cũng chứng tỏ tác dụng tốt đối với các trường hợp liệt cứng mức độ vừa đến nặng. Thuốc này có tác dụng chống co cơ có tên là baclofen. Để đưa thuốc vào bệnh nhân, người ta phải phẫu thuật để đưa vào dưới da một bơm tiêm, thông qua đó thuốc được bơm liên tục.
3. Phẫu thuật
Đối với một số trẻ có tình trạng co cứng hai chi dưới nặng nề, phẫu thuật cắt bỏ chọn lọc một số nhánh thần kinh ở lưng chi phối hoạt động chi có thể làm giảm vĩnh viễn tình trạng co cứng cũng như cải thiện khả năng vận động như ngồi, đứng, đi. Phẫu thuật này thường tiến hành khi trẻ được 2 đến 7 tuổi.
4. Phục hồi chức năng
Đây là biện pháp quan trọng nhất, giúp trẻ có thể vận động được, thực hiện được các công việc tự phục vụ. Đối với trường hợp nặng, tập luyện cho trẻ nhằm mục đích thực hiện được các thao tác quan trọng nhất trong cuộc sống hằng ngày như ăn, mặc, vệ sinh cá nhân. Những trường hợp nhẹ hơn, tập luyện và điều trị có thể hướng đến mục tiêu cao hơn như giao tiếp, vui chơi, và cả học tập nữa.
Điều quan trọng quyết định sự thành công của điều trị là vai trò của bố mẹ hoặc người chăm sóc trẻ. Nếu như chúng ta tin tưởng, quyết tâm và có những kiến thức cơ bản cũng như kỹ năng thực hành thì đứa trẻ có nhiều khả năng đạt được những tiến bộ lớn nhằm giảm sự lệ thuộc của trẻ vào người khác, đảm bảo cho trẻ một cuộc sống gần với bình thường. Phục hồi chức năng cho trẻ bại não cần toàn diện, bao gồm các biện pháp:
- Vận động trị liệu: Sử dụng các bài tập vận động tùy theo thể bệnh để giúp trẻ giảm các mẫu vận động bất thường, tăng khả năng vận động bình thường.
- Hoạt động trị liệu: Sử dụng các bài tập hoạt động trị liệu, các trò chơi giúp trẻ có thể thực hiện được các hoạt động theo sự phát triển của lứa tuổi.
- Ngôn ngữ trị liệu: Giúp trẻ kiểm soát các cơ của lưỡi, hàm, tập phát âm được. Ngôn ngữ trị liệu cần được tiến hành trước tuổi trẻ đến trường và tiếp tục trong suốt thời gian đi học.
- Chăm sóc: Trẻ nhỏ cần có chế độ chăm sóc đặc biệt, cung cấp đủ dinh dưỡng, đủ ánh sáng, được giao tiếp với các trẻ khác và người lớn.
- Giáo dục hướng nghiệp: Đối với trẻ đã lớn, mức độ bại não nhẹ, việc giáo dục hướng nghiệp giúp cho trẻ có thể độc lập và hòa nhập với gia đình và xã hội.
*** Các biện pháp phục hồi chức năng
Nếu được điều trị, phần lớn trẻ em bại não có thể cải thiện đáng kể được những khả năng của mình. Mặc dù các triệu chứng có thể thay đổi theo thời gian nhưng theo như định nghĩa thì bại não là một căn bệnh không tiến triển, vì thế nếu người bệnh càng ngày càng yếu đi thì nguyên nhân có thể là do một vấn đề nào khác chứ không phải là do bại não.
1. Nguyên tắc phục hồi chức năng
- Cần phải tiến hành sớm với sự tham gia của người thân bệnh nhân để việc điều trị được liên tục.
- Có nhiều phương pháp được đề xuất, nhưng dù phương pháp nào cũng phải có một chương trình đầy đủ bao gồm: phục hồi các rối loạn vận động như làm bớt co cứng, múa vờn hay rối loạn trương lực cơ, tập luyện khả năng điều khiển tự chủ, điều trị các rối loạn thính giác, thị giác, động kinh nếu có.
- Tập luyện chức năng cho trẻ bại não có đặc điểm là trẻ chưa hề biết những động tác mà kỹ thuật viên tập cho trẻ, nên cần tiến hành theo trình tự phát triển vận động của trẻ bình thường.
2. Phục hồi chức năng thể co cứng
- Mục tiêu:
+ Ngăn ngừa biến dạng co rút.
+ Giảm co cứng và tập luyện cơ.
+ Tập luyện chức năng và sinh hoạt.
- Phương pháp:
+ Vận động thụ động, kéo giãn, tư thế và dụng cụ chỉnh hình như nẹp, máng, để ngăn ngừa co rút.
+ Tạo thư giãn để giảm co cứng bằng vận động thụ động nhịp nhàng chậm hoặc bằng kỹ thuật ức chế Bobath. Sau đó tập cử động điều hợp từng khớp và nhiều khớp khi đã có tiến bộ.
+ Tập luyện những chức năng của đời sống hàng ngày theo trình tự phát triển bình thường: lật, trườn, bò, quỳ, đứng và đi. Tuỳ từng trường hợp của trẻ được tập đi nạng hoặc sử dụng xe lăn. Đối với chi trên, tập các cử động đơn giản như nắm và buông trước khi tập các động tác phức tạp dùng vào việc ăn uống, tắm rửa, thay quần áo.
+ Hoạt động trị liệu dưới hình thức trò chơi được áp dụng để cải thiện chức năng của chi trên cũng như chi dưới.
3. Thể múa vờn
- Mục tiêu:
+ Tập luyện cử động hữa hiệu và điều hợp.
+ Tập chức năng sinh hoạt.
- Phương pháp:
+ Muốn tạo được cử động có điều hợp, bước đầu cần hạn chế cử động ở các chi và tay hay chân cử động ở một khớp mà thôi.
+ Chi trên bất động ở khớp vai và chỉ cho trẻ cử động gập duỗi khớp khuỷu. Khi đứa trẻ đã gập duỗi khớp khuỷu có điều hợp mới cho tập cử động vai.
+ Ở chi dưới, dùng nẹp chân dài để hạn chế cử động ở đầu gối và tập đi với nạng mà đầu được gắn thêm một miếng chì cho vững chắc.
4. Thể thất điều - mất điều hợp
Bại não thể không điều hợp thường do tổn thương tiểu não. Nguyên tắc tập luyện là kiên nhẫn lặp đi lặp lại nhiều lần những cử động thường dùng trong sinh hoạt hàng ngày cho đến khi đạt sự điều hợp.
a. Đối với trẻ nhỏ
- Đặt đúng tư thế khi nằm: chống lại tư thế co cứng.
+ Nếu trẻ nằm hai chân duỗi chéo nhau thì có thể dùng khố đóng để tách ra hoặc cố định 2 chân.
+ Nếu trẻ thường ưỡn người ra sau, nên đặt nằm nghiêng, nằm võng hoặc trên thùng phi.
+ Nếu trẻ không ngẩng đầu hoặc nhấc tay ra được: đặt trẻ ở tư thế chống 2 tay.
+ Nằm ngửa không tốt đối với trẻ bại não.
- Tư thế khi ngồi:
+ Nếu 2 chân trẻ bắt chéo vào nhau và xoay vào trong, khớp vai sệ xuống, 2 tay xoay vào trong: đặt trẻ ngồi tách 2 chân ra, nâng 2 vai lên, xoay chân tay ra ngoài.
+ Nếu trẻ khó khăn khi ngồi: giữ 2 chân cho trẻ.
+ Trẻ có khả năng thăng bằng kém, hai chân thường bắt ngược ra sau (hình chữ W) để khỏi ngã: không nên khuyến khích trẻ ngồi kiểu hình chữ W do có thể gây biến dạng khớp háng, gối.
+ Nếu trẻ luôn dạng hai chân, mông ưỡn ra sau, khớp vai đưa ra sau, đầu tiên cần đặt trẻ ngồi sao cho thân ở tư thế gập về phía trước, 2 chân chụm vào nhau rồi đưa 2 vai ra trước và xoay vào trong. Sau đó, cùng chơi với trẻ trên bàn, ngồi đối diện với trẻ để trẻ phải với tay ra phía trước lấy đồ chơi. Chú ý đảm bảo để hai bàn chân đặt trên mặt phẳng.
+ Trẻ nhỏ không đặt một vị trí quá 20 phút.
- Cách bế ẵm trẻ:
+ Nếu trẻ thường nằm với tư thế 2 tay co, 2 chân duỗi thì bế sao cho 2 tay duỗi thẳng, 2 gối và háng gập .
+ Nếu trẻ có khả năng kiểm soát tốt hơn thì có thể bế ở tư thế ít cần trợ giúp
- Lẫy và xoay người:
+ Nếu trẻ bị co cứng, phải làm giảm cứng bằng cách đẩy chân trẻ ra sau và ra trước, sau đó giúp trẻ tập xoay người và lẫy.
+ Tìm trò chơi sao cho trẻ muốn xoay người và tự xoay người.
- Vui chơi:
+ Để phát triển nhận thức và vận động.
+ Tăng khả năng tập trung và trí nhớ.
+ Lựa chọn trò chơi phù hợp theo tuổi.
+ Chơi bóng.
+ Âm nhạc.
+ Ghép hình.
- Ăn uống: tập kiểm soát ăn uống.
- Mặc quần áo:
+ Tập mặc quần áo cho trẻ co cứng.
+ Tập mặc quần áo cho trẻ múa vờn.
+ Mặc quần áo cho trẻ thăng bằng kém.
b.Đối với trẻ lớn
- Lượng giá lao động trong tương lai.
- Đối với trẻ liệt bán thân: tập tốt bên liệt.
- Đối với trẻ múa vờn: dùng sự đề kháng để kiểm soát cử động.


Thứ Bảy, 21 tháng 5, 2016

Châm cứu cho trẻ bại não

      Bại não là căn bệnh xảy đến ở trẻ nhỏ, gây nên nhiều thiệt thòi cho bản thân và là nỗi đau của những bậc làm cha mẹ. Y học ngày nay đang có những hướng đi mới trong điều trị bệnh, mong muốn đem đến cho các em một cuộc sống ý nghĩa hơn.
  Châm cứu cho trẻ bại não đang là một phương pháp đem đến nhiều tín hiệu khả quan.
Châm cứu cho trẻ bại não

 Do một phần nào đó của bộ não bị tổn thương nên trẻ bệnh không thể cử động các cơ được vùng não đó điều khiển một cách bình thường. Các triệu chứng của bại não có thể nhẹ nhàng hoặc rất nặng nề ở các trẻ khác nhau tùy theo tổn thương não nhưng ở một trẻ nhất định.
Rất nhiều trẻ bị bại não thường có kèm theo các tình trạng bệnh khác như: chậm phát triển tâm thần, rối loạn khả năng học tập, động kinh, các vấn đề về thính giác, thị giác, ngôn ngữ, tự kỷ...
Những nguyên nhân dẫn đến bệnh bại não ở trẻ:
- Nhiễm trùng trong thai kỳ: Các nhiễm trùng ở phụ nữ có thai như rubella (sởi Đức), cytomegalovirus và toxoplasmosis có thể gây tổn thương não của bào thai và gây bại não sau này. Các nhiễm trùng khác như nhiễm trùng ối, nhiễm trùng hệ tiết niệu – sinh dục của người mẹ cũng có thể gây nên sinh non, một nguy cơ khác của bại não.
- Thiếu khí não bào thai.
- Sinh non: Sinh non là trẻ sinh ra trước 37 tuần thai tính từ ngày đầu tiên của kỳ kinh nguyệt cuối cùng trước khi có thai. Những trẻ sinh non đặc biệt trước 32 tuần và nhất là trước 28 tuần thai có nguy cơ bại não rất cao.
- Ngạt trong quá trình chuyển dạ và sinh nở: Tình trạng thiếu ôxy (ngạt) khi đẻ xảy ra ở 1/500 trẻ sơ sinh, và có thể gây bại não, thậm chí tử vong (1/4 số trẻ ngạt ở mức trung bình sẽ bị bại não).
- Các bệnh máu: ở Việt Nam có thể gặp bất đồng nhóm máu ABO giữa mẹ và thai nhi. Một bệnh khác rất nặng nề là xuất huyết não do thiếu Vitamin K ở trẻ sơ sinh và nhũ nhi cũng gây nên bại não. Các bệnh rối loạn chức năng đông máu khác cũng có thể là nguyên nhân của bại não vì làm tăng nguy cơ chảy máu trong não.
- Vàng da nhân.
- Các bất thường bẩm sinh khác: Các trẻ có bất thường cấu trúc hệ thần kinh, nhiều bệnh di truyền khác cũng làm tăng nguy cơ bại não.
Triệu chứng khi trẻ bại não: phát triển chậm, bắp thịt mềm nhũn, đi đứng không được ngay ngắn. Trẻ sơ sinh mất phản xạ Monro khi đã ra đời được 6 tháng. Trẻ bại não có các động tác co gập, duỗi cứng các cơ một cách bất thường. Trẻ có thể tự đi được nhưng lại có tướng đi vặn vẹo, nhún nhảy, gót nhấc lên, đầu gối khuỳnh vào, hông quay vào trong, nhất là khi trẻ đi nhanh. Có trẻ bị liệt hoặc chậm nói.
Trẻ bị bại não nếu được điều trị đều có những biến chuyển  rất khả quan. Đặc biệt châm cứu cho trẻ bại não đang đem đến tia hi vọng cho gia đình những em nhỏ này.
Châm cứu cho trẻ bại não:
 là một trong những phương pháp chữa bệnh khá hiệu quả trong việc điều trị cho trẻ bị bại não. Các bác sỹ sử dụng biện pháp châm cứu tác động kích thích các huyệt, dưỡng khí, thông kinh lạc bằng các phương pháp điện châm, thủy châm, kết hợp xoa bóp, bấm huyệt và giáo dục hòa nhập cho trẻ.
Tùy theo thể trạng bệnh tật mà sức khỏe của từng trẻ tiến triển nhanh hay chậm. Mỗi đợt điều trị kéo dài 1 tháng, sau khi nghỉ 15-30 ngày lại tiến hành đợt 2. Nhưng mỗi năm cũng chỉ nên điều trị 3-4 đợt. Có em nhỏ chỉ sau 1 đợt là vận động được, có trẻ sau 3-4 đợt châm cứu thì đi được, nói được và giảm co giật.
Các kết quả nghiên cứu cho thấy có hơn 4.000 trẻ bại não điều trị bằng phương pháp châm cứu từ 2009-2011 thì 18-21% trẻ khỏi hoàn toàn (đi lại, nói, đi học, hòa nhập tốt), 60-75% cải thiện rõ rệt (ngồi vững, bò, đứng vịn, đứng, đi men, nói thêm từ, hiểu lời nói) và chỉ 1-5% trẻ không có kết quả do chịu nhiều ảnh hưởng của các bệnh lý khác.
Như vậy có thể khẳng định rằng châm cứu cho trẻ bại não đang là một phương pháp chữa bệnh rất đáng để thử, hi vọng rằng nó sẽ đem lại tiếng cười trẻ thơ trong ngôi nhà của bạn.



Những mốc phát triển của trẻ phát triển bình thường và trẻ bại não

      Hôm nay mình sẽ đưa ra một số đặc điểm cho các bạn phân biệt và so sánh ở một trẻ bình thường và trẻ bị bại não từ lúc mới sinh. Mình hi vọng các bạn hãy nhận biết sớm để chữa trị cho bé nhé.
*** Mốc phát triển của trẻ phát triển bình thường:
Những mốc phát triển của trẻ phát triển bình thường và trẻ bại não

Trẻ mới sinh đến 1 tháng: Có phản xạ mút, bú, nuốt, co rúm khi bị kích thích, nắm bàn tay, lúc 3 tuần tuổi biết nhìn theo vật di động
Trẻ 2 tháng: Biết hóng chuyện, mỉm cười, biết nhìn vật sáng di động.
+ Trẻ 3 tháng: Nằm sấp ngẩng đầu, giữ vật trong tay 1 – 2 phút, đưa mắt tìm nguồn tiếng động, vật di động.
+ Trẻ 6 tháng: Cổ vững, ngồi vững, đứng xốc nách, nhặt đồ vật bằng 5 ngón, phân biệt lạ quen, phát âm bi bô.
+ Trẻ 9 tháng: Nằm sấp có thể bò, lật, tự đưa thức ăn lên miệng, biết đáp ứng khi gọi tên, có cảm giác vui mừng sợ hãi.
+ Trẻ 12 tháng: Tập đi men theo thành giường, đập phá đồ chơi, nói một số từ đơn, bắt chước lời nói, biết thể hiện tình cảm vui cười, giận khóc, vẫy chào tạm biệt.
+ Trẻ từ 1 – 2 tuổi: Chạy dễ ngã, trèo cầu thang, chơi tập thể, tranh giành đồ vật, biết ghen tị, biết làm theo mệnh lệnh, đòi đồ vật bằng cách gọi tên đồ vật, biết chỉ các phần cơ thể.
+  Trẻ 3 tuổi: Tiếp thu học thuộc bài hát ngắn, đứng bằng một chân, chủ động chăm sóc bản thân, biết tên tuổi mình, tháo lắp đồ chơi đơn giản, biết giao tiếp, thắc mắc bằng ngôn ngữ
+   Trẻ 6 tuổi: Ngôn ngữ hoàn chỉnh, học thuộc bài hát dài, có khả năng phân tích, tổng hợp, thích trò chơi tập thể.
*** Đối với trẻ bại não:
    Khi điều trị và phục hồi chức năng cho trẻ bại não, vấn đề phát hiện và can thiệp sớm đóng vai trò quyết định đến sự tiến bộ của các cháu. Trong các nguyên nhân gây bại não, ngoại trừ một số nguyên nhân cấp tính, đột ngột như viêm nhiễm thần kinh, tai nạn, chấn thương…mà di chứng để lại dễ được nhận biết bởi sự khác biệt so với trước khi bị bệnh; còn rất nhiều nguyên nhân không rõ ràng, thoảng qua, đã không thu hút được sự chú ý của cha mẹ các cháu, nhất là với các bà mẹ trẻ, lần đầu sinh con, chưa có kinh nghiệm. Bài viết này mong muốn cung cấp cho các bậc cha mẹ một số kiến thức để đánh giá thế nào là trẻ phát triển bình thường, các dấu hiệu và triệu chứng nào để nhận biết sớm trẻ bị bại não
     Trẻ bại não bị các tổn thương thần kinh không tiến triển trong giai đoạn trước 5 tuổi về các lĩnh vực vận động, trí tuệ, ngôn ngữ, hành vi và các giác quan. Do vậy để đánh giá trẻ có bình thường không, các dấu hiệu nhận biết sớm trẻ bại não cần phải dựa vào các lĩnh vực đó
*** Một số dấu hiệu và triệu chứng nhận biết sớm trẻ bại não:
a. Ở trẻ sơ sinh:
- Trẻ rất yếu hoặc mềm nhẽo sau khi đẻ, nhất là sau các liên quan đến sản khoa như đẻ khó, đẻ ngạt tím, ngạt trắng, đẻ non tháng, đẻ già tháng, đẻ thiếu cân, mổ đẻ…
- Trẻ không mút, không bú, hay sặc sữa, đùn sữa và thức ăn, lè lưỡi ra ngoài hoặc rụt lưỡi vào trong.
- Các dị tật hoặc mất chức năng ở tứ chi: tay chân hoặc mềm yếu không cử động được hoặc co cứng ở tư thế gấp hoặc xoay trong hoặc đổ ra ngoài. Bàn tay nắm chặt, ngón tay cái gập khép chặt
- Trẻ có các tư thế bất thường hoặc cổ mềm rũ, lưng yếu, các khớp yếu, cơ yếu, chậm ngẩng đầu, nâng tay, không giữ được thăng bằng, không giữ được ở tư thế sinh lý; hoặc bị co cứng, ngửa cổ, ưỡn lưng, gập lưng, xoắn vặn chi, cứng khớp, co cứng cơ, khi bị kích thích hoặc đặt bế nằm ở một tư thế nhất định càng co cứng hơn.
- Trẻ có đầu bé nhọn hoặc đầu to quá cỡ và ngày càng to ra theo năm tháng với các thóp và khớp sọ giãn rộng.
- Trẻ có khuôn mặt tròn, mắt xếch, lưỡi to, dày
- Trẻ có biến dạng ở hộp sọ, thay đổi cấu trúc giải phẫu ở tai, mắt, như dị dạng vành tai, lác mắt, sụp mi, rung giật nhãn cầu…, dị dạng cột sống, thoát vị tủy sống…
- Các rối loạn về tâm thần: hoặc la hét kích thích, quấy khóc suốt ngày đêm, hoặc li bì, kém linh hoạt, đáp ứng yếu ớt, khóc rên khi bị kích thích đau…
b. Các dấu hiệu ở trẻ lớn:
- Dễ nhận biết nhất là các rối loạn dáng đi như đi lệch, đi với hai đầu gối chụm khép chặt vào nhau kèm theo co cứng cơ
- Chỉ đứng trên các đầu ngón chân, duỗi cứng hai bàn chân, đi bằng cả hai mũi chân. Đi xiêu vẹo, run rẩy không vững, dễ bị ngã
- Tập đi muộn, đi lạch bạch, hay ngã, bàn chân phẳng.
- Chậm hơn các trẻ khác cùng lứa tuổi trong các bước phát triển: lẫy, bò, ngồi, đứng, đi. Thờ ơ kém nhận thức, như không biết lạ quen, không biết biểu lộ tình cảm, chậm nói, không đáp ứng với tiếng gọi, tiếng động, đến 3 tuổi mà vẫn chưa nói được tất cả.



Thứ Sáu, 20 tháng 5, 2016

Cách phát hiện trẻ có khó khăn về nhìn

       Hôm nay mình sẽ đưa ra một số điểm để bố mẹ có thể phát hiện trẻ có khó khăn về nhìn. Trẻ có khó khăn về nhìn là trẻ không nhìn thấy rõ như những trẻ khác, không thể nhìn thấy rõ khi trời tối, không nhìn thấy rõ vật từ xa hoặc vật gần, nhìn không rõ vật hoặc không phân được màu sắc.
 trong
1) Cách phát hiện như sau:
*** Kiểm tra trẻ nhỏ dưới 3 tuổi: Cho trẻ ngồi vào lòng mẹ, bạn cầm 1 cái nến đang cháy để cách 30 - 50 cm trước mặt trẻ. Đưa nến từ phía này sang phía kia, đưa lên xuống. Nếu trẻ nhìn thấy sẽ đưa mắt theo.
***Kiểm tra trẻ lớn hơn 3 tuổi: Bạn đứng cách xa trẻ 3 mét sau đó đưa lên cao 3 ngón tay yêu cầu trẻ làm theo. Nếu trẻ nhìn thấy sẽ làm đúng yêu cầu. Kiểm tra vài ba lần cho chắc chắn.
2) Cách huấn luyện trẻ khó khăn về nhìn:
* Kích thích sớm trẻ thông qua chơi đùa.
Trước tiên hãy đặt đồ chơi vào tay trẻ hoặc treo những đồ chơi này gần trẻ để khi trẻ với có thể chạm vào chúng. Ở mọi giai đoạn kích thích trẻ, chú ý tới vật phát ra âm thanh. Để trẻ cố gắng với về phía trước để lấy đồ chơi.
khen khi trẻ cố gắng làm hoặc làm tốt.
* Giúp trẻ nhận biết các bộ phận cơ thể
Trước tiên chơi đùa với chính mình. Khi trẻ bị mù bạn giúp trẻ khám phá tay chân bằng cách sờ, ngửi, mút.
Một tay trẻ sờ vào mặt, tay kia sờ vào mặt bạn sẽ giúp trẻ phân biệt được mọi người
* Giúp trẻ nhận biết được đồ vật trong nhà, con vật
cách hỏi trẻ bằng những câu đơn giản như: đây là con bò thì nó kêu như thế nào....
Cách phát hiện trẻ có khó khăn về nhìn

*giúp trẻ đi lại trong nhà men theo tường
Dạy trẻ bằng cách tập đi bằng cách lần theo bờ tường.
* Đối với trẻ lớn hướng dẫn trẻ đi lại với các địa hình khác nhau
* Giúp trẻ vượt qua chướng ngại vật
Đôi khi trẻ bị ngã. Nên dạy trẻ tập ngã trên nền đất mềm. Dạy trẻ biết cách giơ 2 tay ra, chùng gối xuống khi ngã sẽ tránh được đau.
*  Đối với trẻ lớn hơn sáu tuổi bắt đầu đi học với gậy
Gậy nên nhỏ, nhẹ, chiều cao bằng từ mặt đất lên tới điểm giữa thắt lưng và nách. Đầu gậy có thể uốn cong hoặc thẳng. Đầu tiên đưa gậy cho trẻ và bảo trẻ nhẹ nhàng chạm đầu gậy xuống mặt đất phía trước khi đi, cánh tay thẳng. Chơi trò "tự tìm đường" Đừng giục trẻ đi nhanh, dừng tập trước khi trẻ mệt. Sau khi trẻ biết dùng gậy bạn nên đi bên cạnh và động viên trẻ. Bảo trẻ khua gậy sang hai bên và quan sát xem trẻ có phát hiện được chướng ngại vật trên đường đi không? 
* Giúp trẻ đi lại trong làng
Đặt mốc chỉ đường ở ngã ba ngã tư, để trẻ có thể biết chỗ cần phải rẽ. Hãy dạy trẻ biết cách tìm đường bằng các mốc đã có sẵn
* Dạy trẻ khó khăn nhìn sử dụng tay để học các kỹ năng.
- cách uống nước : giúp trẻ nhận biết thức ăn có trên đĩa trong mâm, hãy cố gắng đặt thức ăn ở vị trí cố định trong mọi bữa ăn.
Trước hết bạn phải dạy trẻ cách sờ các vật bằng tay. Dạy trẻ biết cách xem giờ và hình dung mâm thức ăn như một cái đồng hồ lớn, bảo trẻ từng loại thức ăn sẽ được đặt theo vị trí của giờ.
ví dụ : cốc để vị trí 2 giờ thì luôn luôn đặt cốc ở vị trí 2 giờ
* Tạo điều kiện cho trẻ làm việc
* Tắm rửa vệ sinh cá nhân hàng ngày, tự chăm sóc:
Tắm rửa, giặt quần áo, đánh răng, chải tóc, tự mặc quần áo, dạy cho trẻ dùng tiền, dạy cho trẻ đi học
* Đối với trẻ mù hoàn toàn học: Trẻ cần học chữ nổi Braille 
* Dạy trẻ giao tiếp với xã hội

Thứ Năm, 19 tháng 5, 2016

Cách phát hiện trẻ bị bàn chân khoèo

         Dưới đây mình sẽ đưa ra một vài tiêu chí để cho bố mẹ phát hiện ra được sau ngay khi sinh em bé. Con mình có mắc vào diện có bàn chân khoèo bẩm sinh không nhé.
     Bàn chân khoèo là bàn chân bị biến dạng gây khép phần trước bàn chân, nghiêng trong ở gót chân và khớp cổ chân gấp mặt lòng. Nhiều trẻ đi bằng mu bàn  thay cho lòng bàn chân như trẻ bình thường.
- Căn cứ vào mức độ nặng nhẹ, có ba loại bàn chân khoèo:
+ Loại I : Dễ dàng sửa lại ( chỉ cần đặt bàn chân ở vị trí đúng)
+ Loại II : Có thể sửa được bằng nẹp nhưng khó hoặc không hoàn chỉnh như bình thường.
+ Loại III: Không thể sửa được, phải phẫu thuật.
* Cách phát hiện trẻ bị bàn chân khoèo: do nữ hộ sinh khi đỡ đẻ xong phát hiện được hoặc sau đó người mẹ bế ẵm rồi phát hiện được thấy bàn chân cong vẹo bất thường.
+ Phần trước của bàn chân cong vào trong
+ Bàn chân khoèo không duỗi thẳng ra được
Cách phát hiện trẻ bị bàn chân khoèo

* Cách tập cho trẻ :
+ Nguyên tắc: 
- Điều trị sớm
- Gia đình phải được hướng dẫn cách điều trị.
- Điều trị thường xuyên liên tục
- phải nhẹ nhàng
* Các kỹ thuật chính được áp dụng :
+ Xoa bóp: xoa vùng ngón chân, bàn chân, phía dưới cẳng chân. Xoa bóp ngày 2 - 3 lần, mỗi lần 10 - 20 phút.
+ Sau xoa bóp dùng bài tập kéo dãn
+ Bó bột hoặc nẹp chỉnh hình
Chúc các bạn sớm nhận biết được ở trẻ chân bị khoèo để có hướng khắc phục cho con.

CHĂM SÓC, NUÔI DẠY TRẺ